Bỏ qua đến nội dung
Su Art Space

Ấn Độ ký sự: Cái thiêng, hình ảnh và tự do

Tôi đã đi qua nhiều nơi trước khi đến Ấn Độ. Đủ tin để không khinh thường niềm tin, đủ nghi để không lấy cái thiêng làm chỗ trú. Nhưng chưa đủ tự do để thôi muốn sở hữu chính con đường giải thoát của mình.

Bài viết này nằm trong loạt bài ký sự về Ấn Độ

Tôi đến Ấn Độ không như đến một vùng đất lạ. Trước đó tôi đã gặp Phật giáo qua chùa Việt, qua ký ức Trung Hoa, qua trật tự Nhật Bản, qua những bài giảng về đền tháp khi còn học ở Anh. Ấn Độ trong tôi vì thế chưa từng nguyên sơ. Nó đã được lấp đầy sẵn bằng hình ảnh, khái niệm, bản đồ, thuật ngữ, bằng cả những tưởng tượng tôi không rõ là của mình hay thừa hưởng từ sách.

Trung Quốc tôi đi thuở còn trẻ, khi nhiều thứ còn được đón bằng háo hức. Nó mở ra như một vùng ký ức lớn của Đông Á: chùa, tháp, hang đá, chữ viết, một Phật giáo đã đi qua Hán hóa, qua đế chế, qua nghệ thuật. Nhật Bản về sau cho tôi điều khác. Ở đó cái thiêng hiện trong tiết chế, trong một lối đi, một mái chùa, một khu vườn đủ làm người ta nhẹ xuống giữa trật tự khắt khe. Tôi rời Nhật chưa lâu thì sang Ấn Độ. Cú chuyển quá mạnh: từ nơi mọi thứ được chăm cho bớt nhiễu loạn, sang nơi nhiễu loạn đạp thẳng vào từng giác quan.

Ở Anh tôi từng học về đền tháp Ấn Độ qua slide, sơ đồ mặt bằng, biểu tượng học, qua những chữ darshan, mandala, thân thể đền. Một cách đến cần thiết. Nhưng trong lớp học, đá không nóng, đường không bụi, người ăn xin không đứng trước mặt. Một bức ảnh đền trên màn chiếu không có mùi, không có đám đông, không có cái mệt của thân thể sau nhiều giờ đường. Tri thức bao giờ cũng sạch hơn đời sống.

 

Nên khi thật sự đến, tôi không bắt đầu từ số không, nhưng nhanh chóng hiểu những gì mình biết chỉ là một lớp mỏng. Chúng cho tôi vài cấu trúc, không che được nỗi choáng. Cho tôi từ vựng, không thở giùm tôi trong cái nóng. Tôi biết Bồ Đề Đạo Tràng là một nơi đã được phục dựng qua nhiều lớp lịch sử — điều đó không bảo tôi phải làm gì khi đứng giữa những người đang chắp tay khóc dưới bóng cây. Tôi biết Jain giáo là truyền thống khổ hạnh và bất bạo động — điều đó không gỡ được câu Mahavira như đạp thẳng vào tôi: Ngươi đang sở hữu gì, ngay cả khi nói về giải thoát?

Có lẽ tôi may vì không đến quá sớm. Sớm hơn, tôi đã tin quá nhanh, hoặc phủ nhận quá dễ. Muộn hơn, với quá nhiều lý thuyết và tự vệ, tôi đã không còn khả năng bị lay động. Thời điểm này vừa đủ bất ổn: đủ biết để không hồn nhiên, đủ thiếu để một hòn đá, một bát sữa, một phế tích, một mặt nước, một người hành hương xa lạ vẫn làm mình im lặng được.

Tôi không gọi đây là hành hương. Cũng không gọi là khảo sát. Nó nằm ở giữa, và cái giữa ấy mới là chỗ đứng thật của tôi. Tôi mang theo một ít kiến thức, một ít ký ức tôn giáo, một ít mệt của người từng tin rồi rời đi, một ít tham vọng của người viết muốn biến trải nghiệm thành chữ. Không thứ nào đáng tự hào, không thứ nào bỏ lại được ở nhà. Chúng là hành lý thật, nặng hơn va-li.

Ấn Độ vì thế không mở ra như một vùng đất thiêng trong sạch. Nó giống một chiến trường của tâm linh hơn: nơi cái thiêng không đứng tách khỏi bụi, đói, quyền lực, hình ảnh, lịch sử, thương mại, lòng sùng kính và cái tôi của người đi tìm. Ở đó mọi điều tôi tưởng đã hiểu về tôn giáo đều bị đặt trở lại vào thân thể. Một khái niệm phải đi qua nắng. Một niềm tin phải đi qua đám đông. Một truyền thuyết phải đứng cạnh người ăn xin. Một ý niệm về giải thoát phải bị chất vấn bởi chính cái ham muốn chiều sâu của mình.

Cho nên chuỗi ghi chép này không phải chuyện tôi tìm thấy Ấn Độ, mà là chuyện Ấn Độ làm lung lay những cách tôi vẫn dùng để tìm. Mỗi nơi hỏi ngược tôi một điều. Akshardham hỏi tôi đang nhìn hay bị cái nhìn kéo đi. Lotus Temple hỏi tôi cần hình tượng đến mức nào. Ajanta hỏi tôi có ở lại được trong bóng tối trước khi diễn giải không. Ellora hỏi tôi có đặt Phật giáo cạnh những con đường khác mà không biến nó thành trung tâm duy nhất không. Bồ Đề Đạo Tràng hỏi tôi có tin nổi một ký ức đã dựng lại không. Sujata hỏi tôi có thấy những thân thể đói đang hiện ra bên cạnh một truyền thuyết đẹp không. Linh Thứu hỏi tôi có chịu nổi việc không hiểu Phật đang nói gì không. Nalanda hỏi tôi có đủ khiêm tốn với tri thức không. Jal Mandir hỏi tôi có đang biến con đường giải thoát thành tài sản của mình không.

 

Tôi đã đi được nhiều nơi trước khi đến đây. May mắn ấy không cho tôi hiểu Ấn Độ chắc chắn hơn; nó chỉ dạy tôi đừng hiểu quá nhanh. Ấn Độ không cần thêm một người đến để kết luận, càng không cần tôi biến nó thành sân khấu cho sự sâu sắc của mình. Điều tôi có thể làm, nếu còn chút trung thực, là ghi lại những va chạm: giữa điều đã học và điều đã thấy, giữa ký ức và thân thể, giữa niềm tin và hoài nghi, giữa cái thiêng và đời sống quá đỗi người của mảnh đất ấy.