Bỏ qua đến nội dung
Su Art Space

Tây Thanh Hoa du ký (05): Thác – những cuộc cướp dòng

Ở miền Tây Thanh Hóa hội tụ những dải núi cao nhất, khắc nghiệt nhất, từ đá hoa cương âm u, hay là từ đá vôi chói lọi với những thung lũng sâu và hẹp, ở đó có những thác nước gầm thét, sục sôi.
Charles Robequain (2012: 273)

Rời Văn Nho, chúng tôi sang Ma Hao. Đến nơi thì trời đã nhập nhoạng.

Cả khu vực vắng, gần như không có ai. Con suối đá chạy dọc theo thung lũng với những tảng đá lớn đồ sộ, dài phải mấy cây số. Phía trên cùng, nước đổ từ đỉnh thác xuống, trắng xóa giữa rừng đang tối dần. Trông tráng quan lắm. Nhưng muộn quá rồi. Chúng tôi chỉ ngồi lại ở đây một lúc, rồi quay ra tìm chỗ ngủ, hẹn sáng mai trở lại, dành hẳn một buổi để ngồi với nó.

Bản Năng Cát không có mấy chỗ nghỉ. Chúng tôi xin ngủ nhờ một nhà dân, ăn tạm bữa cơm tối. Cô chủ nhà bảo quanh đây còn vài cái thác nữa, “chưa khai thác”. Rồi cô chỉ lối cho.

(Sáng sớm ở bản Năng Cát)

Sáng hôm sau, chúng tôi mò theo lối cô chỉ. Trời trong, mát. Cuối cùng cũng tìm được đường vào.

Thác có tên là Phi Vân. Người địa phương gọi đơn giản hơn: thác sương mù. Nước đổ xuống tách thành nhiều tia, bắn thành hơi, rồi mọi thứ cứ thế trôi đi trong một lớp sương mờ.

Chúng tôi đun ấm nước, pha ấm trà, ngồi thong dong trên một tảng đá giữa dòng. Trời lạnh như đã vào đông. Nước pha trà lấy ngay dưới suối. Suốt chuyến đi, nước suối chỗ nào tôi uống cũng thấy có chút khoáng vừa phải, pha trà hay cà phê mang theo đều dậy vị.

Đun nước pha trà

Rồi quay lại thác Ma Hao.

Ban ngày nhìn rõ hơn. Thác ồn ào, mạnh mẽ. Nước không đổ thành một dải, mà tràn qua mặt đá, tách ra thành hàng chục dòng, mỗi dòng tìm một lối riêng xuống chân thác. Mạnh bắc ấm moka lên tảng đá, pha cà phê. Người ngồi vẽ, người ngồi thiền.

Lúc này mới nhìn rõ đá. Đi suốt từ Pù Luông, tôi đã quen với đá vôi: vách dựng đứng, hang khoét sâu, nước chui vào lòng núi rồi lại chui ra. Ở đây khác hẳn. Đá xám, nhẵn, phần nhiều tròn trịa, lăn lóc khắp lòng suối. Không phải đá vôi. Có lẽ là thứ đá sinh ra từ lửa trong lòng đất, hoa cương hay rhyolit như Robequain ghi cho vùng núi trung lưu sông Chu.

Tôi đọc lại Robequain để tìm một lời giải thích. Ông viết: “Vùng Tây Thanh Hóa còn rộ sức trẻ.” Những dòng sông ở đây vẫn đang đào lòng. Ở Lang Chánh, Ngọc Lặc, chúng chảy “theo một tuyến như rạch bằng lưỡi lê”, nối những bồn địa rộng bằng những khúc hẹp, thẳng góc, cắt ngang những dải đá cứng hơn. Rồi ông hỏi: “Phải thấy ở đấy kết quả của những vụ cướp dòng kế tiếp chăng?”

Cướp dòng, nói theo cách của người không học địa chất, là thế này. Hai dòng suối nằm hai bên một sống núi. Một dòng chảy trên đá mềm, ăn ngược lên nguồn nhanh hơn, cho đến một ngày đục thủng sống núi và lấy luôn phần nguồn của dòng bên kia. Dòng nước bị cướp từ đó phải đổ xuống mặt bằng thấp hơn của kẻ cướp. Chỗ chênh lệch ấy hiện ra thành ghềnh, thành thác.

Robequain chỉ ra một chỗ như thế: suối Làng Khuynh, cách Lang Chánh sáu cây số về phía Tây Nam. Xưa kia suối chảy về sông Âm, rồi bị một phụ lưu sông Cầu Chày hút sang hướng khác. “Trên khoảng cách 1km, nó đổ từ độ cao 40m”, và độ chênh ấy “chỉ được thể hiện qua một chuỗi thác nhỏ”.

Ông không nói Ma Hao hay Thiên Thủy sinh ra như thế. Ông cũng không chắc về chính điều mình nói. Ông đưa thêm một giả thuyết khác: những con sông giữ nguyên dòng cũ trong khi đất nâng lên, và khi “đụng phải lớp cứng rắn hơn, thì chỉ có thể tạo ra một đường thoát ra quá là hẹp”. Rồi ông thú nhận rừng quá rậm, muốn tìm dấu vết cướp dòng “thì cũng đành chịu”.

Tôi thích ông nhất ở chỗ ấy. Một nhà địa lý đi khắp tỉnh Thanh mà vẫn viết thẳng rằng mình không nhìn thấy. Nó làm tôi nhớ ông lái bè bên hồ Bản Bút: “Có thấy gì đâu mà đi.”

Đứng trước một ngọn thác, người ta chỉ thấy nước trắng và tiếng ầm. Cái người ta ngắm có khi là vết sẹo của một cuộc tranh nước từ rất lâu, giữa đá mềm và đá cứng.

Theo thống kê sơ bộ của tôi, Thanh Hóa có hơn hai mươi lăm ngọn thác. Phần lớn, như lời cô chủ nhà ở Năng Cát, “chưa khai thác”. Tôi hiểu vì sao cô nói thế. Một ngọn thác có khách thì nhà cô có thêm người ngủ nhờ, thêm bữa cơm bán được. Còn tôi, người từ dưới xuôi lên, vừa có một buổi sáng ngồi pha trà một mình trước thác sương mù. Ở hang Bò Cúng, tôi đã thấy một nơi được “khai thác” trông thế nào: có đèn, có khóa, phải gọi điện mới vào được. Tôi chưa biết nên mong điều gì cho những ngọn thác này.

Thác Thiên Thủy là chặng cuối.

Đường xe máy vào thác hơn năm cây số, một lối mòn hẹp, hai bên toàn cây rừng. Thỉnh thoảng gặp người trong bản đi ra, vài chiếc xe máy dựng bên đường. Có lẽ chỉ người đi làm rừng mới qua lối này. Hết đường xe, còn phải đi bộ thêm năm sáu trăm mét. Thác có nhiều tầng. Chúng tôi đến tầng dưới, đứng một lúc mới biết chưa phải, lại men theo đỉnh dốc mà leo tiếp lên trên. Dãy núi trông như bị cắt đứt một đoạn.

Rồi vách đá hiện ra. Một phiến đá phẳng, dựng đứng, rộng như bức tường của cả quả núi. Không phải mùa nước lớn, nên Thiên Thủy không ầm ầm như Ma Hao. Nước chảy thành những sợi mảnh trên mặt đá, và chỗ nào nước đi qua, đá sẫm lại, bóng lên. Robequain tả đá hoa cương ở vùng này là “những bề mặt trơ trọi, nhẵn nhụi, sau mưa ánh lên dưới ánh nắng như những tấm gương trên sườn dốc”. Đứng dưới chân Thiên Thủy, tôi thấy đúng những tấm gương ấy.

Lại người vẽ, người thiền.

Quanh chân thác, những gốc tùng la hán mọc chen giữa đá. Tôi vốn không thích loại tùng này. Trong vườn, trong chậu, nó bị uốn, bị tỉa, bị buộc dây cho đến khi thành đúng cái dáng người ta muốn. Còn ở đây, không ai uốn nó. Cành vươn ra, gãy, mọc lại, xoắn quanh đá, nghiêng theo hướng nước và gió. Kỳ dị thật sự, và sống động. Có lẽ cái tôi không thích chưa bao giờ là cây tùng, mà là bàn tay người uốn nó.

Định ba rưỡi thì về, để còn tìm chỗ nghỉ. Bốn rưỡi chúng tôi mới rời được thác.

Tôi biết mình sắp phải xa núi rừng, quay về với đô thị. Đô thị cho mình mọi thứ. Nó cũng lấy đi rất nhiều thứ.

Từ Thiên Thủy, chúng tôi xuôi về phía sông Chu, về phía Lam Sơn.

Gửi cho một người bạn

Thảo luận

0 thảo luận

Chưa có thảo luận. Hãy viết dòng đầu.