Bỏ qua đến nội dung
Su Art Space

Tây Thanh Hoá du ký (06): ….. Đi về Lam Sơn từ phía sau

Rừng nhiều, đất nhiều, người nhiều; làm sớm, làm chiều, sao vẫn đói.
Vua có, Chúa có, Trạng có; nói trăng, nói gió, bụng không no.
Một nửa câu trên được cho là của Bí thư Lê Huy Ngọ nói năm 1990, câu sau của ai thì không rõ!

Rời Thiên Thuỷ, chúng tôi xuôi về bản Mạ, một bản nhỏ bên sông Chu. Đêm cuối cùng ở miền ngược. Cả hai đều biết hôm ấy là ngày đỉnh của chuyến đi. Không thể hơn được nữa. Một chai rượu hết. Câu chuyện quay về câu hỏi vì sao mình đi. Một người muốn tìm một thứ không có trên trách. Một người muốn tìm một ý nghĩa khác cho đời sống, ngoài những tâm tư của phố thị.

Sáng hôm sau, chúng tôi rời bản. Chặng đầu tiên trên đường về là một di tích: đền thờ Trung Túc vương Lê Lai, người đã khoác áo bào Lê Lợi lao vào vòng vây quân Minh để chủ tướng thoát.

Đền nhỏ nhắn, nhưng khoảng xanh quanh đền rộng và mát mắt. Những bông súng nở rộ trong nắng sớm. Cả đền vắng, chỉ có hai thầy trò. Chúng tôi ra phía sau, bắc ấm moka. Tôi ngồi vẽ ngôi đền từ phía sau lưng nó: rêu xanh phủ kín, mấy hàng sấu già, tiếng chim sớm.

Rồi xa xa vẳng lại tiếng nhạc vàng từ một chiếc loa nào đó.

Chúng tôi biết mình đã rời núi rừng.

Đường về đi ngang Lũng Nhai.

Cái tên ấy tôi đã đọc, đã viết, đã nói nhiều lần. Trong đầu tôi, nó là một vùng hoang vu. Nhưng thu vào mắt lúc này, Lũng Nhai là một dải đồng bằng hẹp kẹp giữa những dãy núi dài, khá rộng rãi. Núi đủ cao để đứng trông xuống. Dòng sông uốn lượn xung quanh. Như Văn Nho hôm trước. Những túi cư trú như thế có ở khắp vùng này. So với Nghệ Tĩnh, tôi thấy đường sá ở miền Tây xứ Thanh tỏa rộng hơn, và những thung lũng nhỏ đủ sức chứa người ở thì nhiều vô kể.

Gần trăm năm trước, Robequain viết rằng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn “đã diễn ra chính ngay trên địa bàn các quãng đồi có rừng bao phủ và những bồn địa trồng trọt được từ Bái Thượng đến Hồi Xuân”. Đọc ở nhà, đó là một câu địa lý. Bây giờ thì tôi vừa đi qua những quãng đồi ấy, ngủ trong những bồn địa ấy.

Không có cuộc khởi nghĩa nào chỉ sống bằng một vị anh hùng. Nó cần đường, cần gạo, cần người biết núi, cần những túi đất đủ kín để giấu người. Lịch sử mà chúng ta quen đọc bằng tên người luôn được đỡ phía dưới bởi địa lý, và bởi những con người rất ít khi có tên. Trên chuyến đi này, những người tôi nhớ nhất cũng hầu như không có tên: chị trên quả đồi gần Pù Luông, ông bên hồ Bản Bút, chị đốt rạ, bà hái măng ở Bò Cúng, chị chủ nhà ở bản Ngàm, cô chủ nhà ở Năng Cát.

Chúng tôi vào bái yết sơn lăng ở Lam Kinh.

Những con thần thú đứng chầu bên lăng nhỏ, thu lại đến hết cỡ. So với thần thú ở những lăng mộ đời sau, chúng bé đến bất ngờ. Tôi thực không hiểu vì sao những con người có công nghiệp lẫy lừng như thế lại chọn một sự bình dị như vậy để kết thúc chặng đường của mình.

Ở Lam Kinh, tình cờ gặp lại một người sếp cũ. Cơ quan mới của anh đang đi du lịch. Âu cũng là nhân duyên lạ!

Điểm cuối cùng là đền thờ Lê Hoàn. Đền đang được chỉnh trang, tu sửa. Ai đến đây tìm một điều gì thú vị hay hoành tráng, có lẽ sẽ hơi thất vọng. Tôi hỏi một người anh: vì sao chỗ này lại là di tích quốc gia đặc biệt? Anh trả lời cụt lủn: “Là lịch sử.”

Một câu ngắn. Nhưng ý vị vô cùng.

Một câu hỏi tôi mang theo suốt chuyến đi, và lâu hơn thế rất nhiều. Đất có vua, có chúa, có trạng. Rừng nhiều, đất nhiều, người nhiều. Vậy tại sao Thanh Hóa vẫn nghèo? Người đi cùng tôi bảo: nhìn những người dân ở đây, họ không nghèo. Họ nghèo, có lẽ là theo những thước đo mà phố thị chúng ta đặt ra.

Tôi nghĩ về câu ấy rất lâu. Tôi nhớ bữa cơm ở Năng Cát, đám cưới ở bản Ngàm, mấy quả ổi trên mũ bảo hiểm. Nhưng tôi cũng nhớ chị đốt rạ nói năm nay lúa lép. Nhớ bà hái măng nói để hoang, phí quá. Nhớ cô chủ nhà mong có thêm khách. Họ không thấy mình thiếu những thứ tôi tưởng họ thiếu. Nhưng họ cũng có những điều họ mong.

Câu hỏi không sai. Chỉ là phải hỏi thêm một câu nữa: nghèo, theo thước đo của ai?

(Chi tiết trang trí tại đền Lê Hoàn)

Bảy ngày. Giờ mới gặp lại chiếc đèn đỏ đầu tiên.

Chúng tôi biết mình đã trở lại đô thị. Lại những giờ dài, rất dài, ngồi chôn chân trên đường.

Trong núi, không phải chúng tôi không lãng phí thời gian. Một cốc cà phê ngồi chờ hết sương ở hồ Bản Bút. Một quãng đi nhầm tầng thác ở Thiên Thủy. Định ba rưỡi về, bốn rưỡi mới đi. Nhưng đó là một kiểu lãng phí khác. Như những gốc tùng ở Thiên Thủy, không ai uốn, cứ vòng theo đá mà lớn.

Chuyến đi bắt đầu bằng một chén nước ở cửa Bắc Tây Đô và kết thúc ở Lam Kinh. Robequain từng để ý rằng những di tích nổi tiếng nhất của Thanh Hóa không nằm giữa đồng bằng phù sa, mà rải rác ở ven nó: Lam Sơn, Quý Hương, thành nhà Hồ. Chỗ đồng bằng chạm vào núi. Tôi khởi hành từ một mép ấy, và trở về ở một mép khác.

Tôi khởi hành vì nghĩ mình cần biết thêm về miền Tây Thanh Hóa. Cuối cùng, miền Tây lại khiến tôi nhìn lại chính phần Thanh Hóa mà mình tưởng đã biết. Thành nhà Hồ khác đi khi phía sau nó không còn là một vùng núi mơ hồ. Lam Sơn khác đi khi những bản làng phía tây trở thành những nơi có người sống, có đường, có ruộng, có sông. Ngay cả cái tên “Thanh Hóa” cũng khác. Nó không còn là một khối. Nó là đồng bằng và núi, là người Kinh, người Mường, người Thái, là thành quách và mái tranh, là lịch sử được ghi trong sách và những thứ không được ghi lại ở đâu.

Tôi đã bắt đầu chuyến đi bằng một ý nghĩ khá đơn giản: tôi muốn hiểu Thanh Hóa hơn.

Đi hết một vòng, tôi không chắc mình đã hiểu hơn bao nhiêu.

Chỉ thấy Thanh Hóa lớn hơn trước.

Có lẽ đó cũng là một cách hiểu.

Thanh Hoá 18.10.26

Gửi cho một người bạn

Thảo luận

0 thảo luận

Chưa có thảo luận. Hãy viết dòng đầu.