Tây Thanh Hoá du ký (02): Không phải Tây Bắc
Sự xuất hiện của nhà sàn, cách ăn mặc, báo cho người du khách biết là họ đã rời khỏi xứ sở của người Việt.
Charles Robequain (1929: 109)
Qua khỏi đồng bằng, tiếng nói đổi trước cảnh. Có nơi nói tiếng Kinh. Qua một đoạn lại gặp những bản Thái. Đi thêm lại sang vùng Mường. Nhà cửa thay đổi. Ruộng thay đổi. Cách người ta đặt làng/bản vào trong cảnh quan cũng thay đổi. Tôi nghĩ khi Robequain đi ở những vùng này, sự tương tác giữa người Kinh và người Mường, Thái khác xa bây giờ, khoảng cách giữa các tộc người, nếu nhìn từ góc độ một lữ khách thì không thực sự quá lớn.
Ngôi nhà Thái đầu tiên tôi thực sự bước tới trên chuyến đi này lại là một ngôi nhà không còn ai ở.

Gần tới Pù Luông, hai thầy trò rẽ vào một lối nhỏ, chẳng vì lý do gì ngoài tò mò, đi ngược lên một quả đồi ruộng bậc thang có một vị trí bao quát rất lớn. Trên đỉnh có một ngôi nhà sàn đã bỏ hoang. Những chiếc khung đã có phần rệu rã nhưng dáng dấp thực sự đáng chú ý. Chỉ còn khung mà thôi. Từ đó nhìn xuống, cả thung lũng mở ra, các lớp ruộng bậc thang đã được gặt trước đó một vài tuần, trong nắng chiều rực rỡ. Tôi đứng lặng một lúc. Người dựng nhà ở đây hẳn đã chọn chỗ này rất lâu trước khi có ai gọi nó là “view”.
Có một chị người Thái đang làm gì gần đó. Tôi cứ khen ngôi nhà đẹp, hỏi dăm ba câu: nhà của ai, sao lại bỏ.
Chị bảo:
Cái nhà này mà đẹp á, em đi xuống kia, đầy nhà đẹp hơn. “Đất này đã bán rồi, bán cho sư rồi. Trên này có chùa này.”
Tôi đứng ngây ra.

Mấy năm nay tôi đọc và viết về Phật giáo và nhà nước. Tôi đã đi một quãng rất xa khỏi bàn làm việc của mình. Vậy mà lên tận đây, trên một quả đồi người Thái, câu đầu tiên tôi nghe được về đất đai lại có chữ “sư”. Đã là nhân duyên thì đành chấp nhận.
Tôi đi tiếp lên đỉnh núi, định bụng gặp chùa thì vào xem. Đã có một địa điểm như thế ở một chỗ như thế, thì người lựa chọn đất đai quanh đây cũng có tầm đấy.
Ở chùa, chúng tôi gặp một anh mới lên ở được gần ba tháng (anh Khánh, a bảo đang bắt đầu đi tu, việc chính bây giờ đang là quét dọn nhà cửa) . Anh rất nhiệt tình, dẫn hai thầy trò đi xem chùa, rồi đi một vòng ngắm cảnh quan cả khu vực. Chỉ về hòn đá, anh bảo đây là điểm đẹp nhất của chùa. Chỉ vào đường đá, anh bảo, thầy làm việc cũng kỹ lắm, đá xếp này mất cả tháng trời mới xong đấy. . Phía dưới là khu guồng nước lớn. Chỉ cách mấy quả đồi là Pù Luông của homestay và khách du lich, nhưng ở đây yên đến lạ.
Lúc chia tay, anh hẹn: lần sau tới có thể nghỉ lại chùa. Vâng, hẳn thế rồi ^^ !
…
Tới Pù Luông. Cái tên chắc hẳn hot nhất trong du lịch Thanh Hoá – đặc biệt là đối với khách nước ngoài.
Ấn tượng đầu tiên của Pù Luông rất dễ gọi tên. Ruộng bậc thang. Núi nối núi. Nhà sàn. Mây nằm thấp trong thung lũng. Những con đường nhỏ luồn giữa sườn núi. Nếu chụp một khuôn hình vừa đủ hẹp rồi đưa cho người chưa từng tới đây, không ít người sẽ đoán đó là Tây Bắc.
Nhưng ở đây, tôi thấy không phải.
Ở nhiều nơi trên Tây Bắc, tôi thường cảm thấy mình đã đi rất xa. Núi dựng lên thành những biên giới. Thung lũng đóng lại. Một bản nằm bên kia đèo đôi khi như một thế giới khác.
Pù Luông không hoàn toàn như vậy. Núi vẫn lớn, nhưng con người bám vào nó mềm hơn. Bản nép xuống thấp, gần ruộng, gần nước. Nhà và ruộng len vào nhau. Những con đường nối các bản khiến tôi không có cảm giác đang bước vào một miền cao bị tách biệt, mà như đang đi ngày càng sâu vào bên trong Thanh Hoá.
Gần trăm năm trước, Robequain đã nhận ra điều này. Ranh giới ngôn ngữ giữa người Thái và người Mường rất rõ, nhưng lối sống thì đổi dần, “gần như khó nhận thấy”. Ranh giới ấy không nằm trên bản đồ. Nó có thể chỉ là một quán nhỏ bên đường, chủ quán nói với người nhà bằng một thứ tiếng khác rồi quay ra nói tiếng Kinh với mình. Một mái nhà sàn phía sau một ngôi nhà xây. Một bà cụ mặc quần áo hoàn toàn bình thường, nhưng cách bà ngồi, cách bà gọi đứa trẻ trong nhà, gian bếp phía sau, lại thuộc về một thế giới khác.
Những điều ấy không hề “ngoạn mục”. Chúng rất dễ bị bỏ qua nếu ta chỉ đi tìm thửa ruộng bậc thang đẹp nhất để chụp.
Pù Luông bây giờ đã khá quen với du lịch. Những căn nhà đẹp được chọn ra. Những thửa ruộng có tầm nhìn đẹp được chụp đi chụp lại. Nhà sàn, váy áo, món ăn bắt đầu bước vào một hệ thống khác: chúng không chỉ còn thuộc về người đang sống ở đó, mà đồng thời trở thành những thứ để người khác nhìn. Khách mùa này, đặc biệt, ngày trong tuần, chỉ phần lớn là khách nước ngoài.

(View từ chùa trông xuống – chỗ này hiện tại chỉ là nội viện, chùa sẽ được xây ở vị trí căn nhà Thái đã bán)
Tôi lại nghĩ về quả đồi ban chiều.
Trên cùng một sườn đồi có hai ngôi nhà. Một ngôi nhà sàn bỏ trống. Một ngôi chùa vừa có người đến ở.
Tôi không biết gia đình người Thái ấy dựng nhà ở đó vì sao, cũng không biết vì sao họ rời đi. Bán vì cần tiền? Vì con cái đã xuống núi? Hay vì nhà đã cũ, dựng lại thì tốn hơn bán đi? Tôi đã không hỏi thêm. Lẽ ra nên hỏi.
Còn người mua chọn nó vì điều gì thì tôi đoán được. Vì chính tôi cũng vừa đứng lặng trước nó.
Ngôi chùa không phải homestay. Nhưng nó cũng là một cách người dưới xuôi chọn lấy một phần cảnh quan miền núi. Du lịch đến bằng máy ảnh. Chùa đến bằng một mảnh đất đã mua. Cả hai cùng tìm đến những chỗ đẹp nhất.
Tôi không nghĩ điều ấy nhất thiết tốt hay xấu.
Và tôi đã nhận lời hẹn của anh. Lần sau lên, nghỉ lại chùa. Tự nhiên có thêm một chỗ, tội gì không. Nói cho thật, tôi cũng là một người đồng bằng thích những chỗ đẹp nhất.
Nhưng từ Pù Luông, tôi bắt đầu muốn đi xa hơn khỏi những nơi đã được chọn sẵn cho cái nhìn của người ngoài. Tôi muốn xem sau những quả núi ấy còn gì.
Thế là từ Pù Luông, tôi đi xuống phía gần Cành Nàng rồi vòng ngược vào sâu hơn.
Ở đó, tôi nghĩ những mái nhà bắt đầu thay đổi!
(Quang cảnh Pù Luông buổi sáng sớm – cũng mênh mông và trùng trùng điệp điệp trong sương khói bảng lảng)

(và tôi cũng không thực sự hiểu vì sao họ lại cứ phải… cắm cờ!)

(Cảnh quan Đá vôi lẫn với cảnh quan đồi) 
(Khu guồng nước / cọn nước lớn, tại Pù Luông, người ta dùng hệ thống guồng này để dẫn nước vào đồng
một cách tận dụng chính dòng chảy của sông suối để đưa nước lên cao. Nước làm bánh cọn bằng tre quay đều, ống hoặc máng nhỏ gắn quanh vành bánh xe lần lượt múc nước ở dưới suối, đưa lên tới điểm cao nhất rồi đổ vào máng dẫn về ruộng. Nhờ vậy người dân có thể đưa nước từ lòng suối thấp lên những chân ruộng cao hơn mà gần như không cần sức người hay máy móc. Cọn thường được dựng ở nơi dòng nước vừa đủ mạnh để quay bánh nhưng không quá xiết. Đến mùa lũ, cọn tre dễ bị cuốn hỏng, và sang mùa khô người ta lại dựng lại để tiếp tục dẫn nước vào ruộng. Tái sinh cọn nước sau mỗi mùa lũ thực sự cho người ta thấy được sức sống bền bỉ và sự kiên nhẫn tuyệt vời của con người trước thiên nhiên)