Lời bạt cho sách “Chuyện trà”
“Every something is an echo of nothing”
John Cage
Nhận trên tay dăm bánh trà mới, tôi bèn bóc ra luôn, để pha trà cho hai anh em cùng uống. Chuyện uống trà giữa tôi và anh có lẽ cũng chẳng phải chỉ có một vài lần, ví thử kể ra chắc cũng đủ khắp nơi, lên núi băng, xuống biển vắng, vào rừng sâu, ra phố thị, gần như cứ mỗi lần xê dịch lại là một lần thưởng trà ở các không gian khác nhau.
Lần này có vẻ lạ hơn, nước đang còn tăm cua đã thấy anh đưa ra một tập bản thảo vừa in, rồi kèm theo đó là giọng đọc sang sảng, thao thao bất tuyệt về những “chuyện trà”… mà có nhiều chuyện phần đa đã được nghe, được nói, được trao đổi mà hai anh em đã chia sẻ ở không biết bao nơi rồi. Có điều mới, có điều cũ, nhưng cái tâm tình của người vừa xong một công việc cũng đã ấp ủ lên xuống không biết bao lâu thì khó mà có thể tả được!
“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”
Câu thơ của Lý Bạch đề lên vách lầu Hoàng Hạc là điều đầu tiên vẳng lên trong đầu tôi khi nghe anh bảo viết lời bạt cho sách. Đọc xong bản thảo thực nếu bảo viết bình thêm gì, khen thêm gì, có lẽ bằng thừa. Bởi cái khó là chính sự vừa hoàn chỉnh lại vẫn như còn dang dở đó mở ra nhiều chân trời hơn những gì ta có thể nghĩ. Cái khó ở chỗ, mọi việc tưởng chừng như đã đủ, mà lại vẫn chưa đủ. Cái dư vị vô cùng đó làm người ta vừa thấy đủ mà vẫn thấy thiếu, thấy đất trời vẫn còn mênh mang trong một câu chuyện còn đang tiếp diễn …. bởi những ngày tháng đổi thay còn ở phía trước, những câu chuyện còn bỏ ngỏ với những phương tiện của những cuộc thưởng trà mới trong thời đại mà mọi thứ đều như đang chuẩn bị mang lên hết cả trên những thế giới ảo! Lời bạt này có cũng chỉ là đặng chẳng đừng mà phải có, nó không phải tô vẽ cho một cuốn sách mà tự thân đã là một thế giới hoàn thiện của riêng nó mà chỉ là thế giới được tôi trông thấy.

….
Mùa năm 1087, Tô Đông Pha nhận được một bánh trà do Hoàng Đình Kiên gửi tới, kèm theo một bài thơ…. Muốn gặp Đông Pha cựu cư sỹ…hay đúng hơn Hoàng Đình Kiên muốn tìm gặp lại một người bạn đã cũ, để nhắc nhớ những phong trần, những giấc mơ ban đầu của cư sỹ họ Tô. “为君唤起黄州梦,独载扁舟向五湖”. Hoàng với Tô có lẽ cũng như Cao Bá Quát cùng Miên Thẩm. Hẳn có lúc giở gói trà mới nhận được, chắc Miên Thẩm cũng nhớ tới người bạn trà năm xưa. Có lẽ so với Cao thì Miên Thẩm hẳn là một người có đời sống vương giả, không dã tâm, bình dị, được mất cũng chẳng để vào lòng nhiều, bởi có nhiều mà cũng ít thứ để mất. Cao cũng như Tô lời ngay thẳng mà hào sảng, lại có phần như danh sỹ thời Ngụy Tấn, như con ngựa bất kham, chỉ đi con đường mà mình tin, nhưng vẫn có sự hồn nhiên và ngây thơ. Ở đời, sự chín muồi không phải xuất phát từ sự lọc lõi trải đời rồi mềm mỏng với cuộc đời, mà là thấu qua rồi mà vẫn chọn lựa đơn thuần, đi con đường mà mình muốn. Người bạn của tôi cũng như bóng cũ của cư sỹ Đông Pha, không còn tồn tại, mà chỉ còn ở trong lòng của những người vẫn mãi đứng yên ở mười năm về trước!
Người xưa viết văn chương thơ từ, ca phú xét cho cùng cũng chỉ bởi muốn nói lên cái trong lòng muốn nói, cái bất bình ở trong tâm mình muốn bầy ra. Rũ áo mũ, nâng chén trà, rong chơi ngoài chữ nghĩa. Đời người dài ngắn, cũng chỉ đong đầy trong vài chén nước, chén trà, chén rượu, chén thuốc mà thôi! Chuyện trà đúng là một câu chuyện – Một câu chuyện mà không thể nào viết ra được bởi người những ai chỉ đắm trong mớ từ chương của quá khứ, những sử liệu rồi đắp đầy thành mớ chữ nghĩa rối bòng mà phải có núi rộng sông dài, có trăng thanh gió cả ở trong lòng….
Người ta phần đa ai cũng ưa dùng một thức uống nào đó, mà có khi còn chăm chỉ, một ngày uống dăm ba bận, nhưng để đưa nó lên một tầm cao khác thì quả thực không dễ! Cũng như việc viết chữ, người biết chữ cũng nhiều, người viết chữ cũng nhiều, nhưng rốt ráo vẫn cách cái Đạo của chữ vẫn là tám vạn bốn ngàn dặm xa vời. Chuyện trà là một cẩm nang một cuộc hành trình cho bất cứ ai muốn đi cho bớt dặm trường thưởng ngoạn của một thức uống thuần túy trong đời sống, đến gần hơn tới những thế giới xa xôi mà trà mang tới.

Trà vốn chỉ là cỏ cây. Trà là một thức uống vừa bình dân lại có phần cao cách. Uống trà, cũng chính là thưởng vận vị của tự nhiên, bước vào non xanh nước biếc mà thưởng gió mát trăng thanh cầm kỳ thi họa của cao nhân dật sỹ cũng có khi chỉ là mắm muối dưa cà của đời sống thường nhật. Những năm gần đây trà trở thành một trào lưu, hay nói đúng hơn mối quan tâm với trà càng nhiều. Tôi uống trà cũng vốn giản đơn, mỗi ngày tỉnh dậy là ngồi đun nước, pha trà. Nhưng thực tế trà gì thì lại chẳng lựa chọn kỹ lắm. Trà xanh trà hoa, trà đỏ, trà Phổ Nhĩ, Ô Long, trà Thái, nói chung cứ có là uống phần lớn trà đều là từ bạn bè cho hoặc tự đi xin. Rồi cũng có lúc tự hỏi, truy nguyên lại ban đầu vì sao lại phải uống trà? Có lẽ trừ việc giải khát, một thói quen được bồi đắp trong vô thức hoặc chăng, việc quan trọng hơn nữa đó là Dưỡng tâm.
Chuyện Trà là thái độ nhân sinh, chứ không chỉ là những câu chuyện trà dư tửu hậu, người ta có thể không đạt được tới những cảnh giới cao xa ở đó, nhưng cũng tự được thấm nhuần bởi văn chương thơ từ, để tự cởi mở hơn, dẫu chẳng thấy suốt sự đời, những cũng giảm phần nào áp lực của cuộc sống. Cũng như đọc kinh Phật, chẳng phải ai đọc xong đều thấy tứ đại đều không, nhưng cũng làm con người ta nhìn đời với một mầu sắc khác. Sách thì dùng để đọc, mà Trà thì dùng để thưởng. Xét ra cả hai vẫn có khoảng cách với nhau, nhưng tuy hai ấy mà vẫn là một. Trà có thanh có đậm, sách cũng có thấp có cao. Sách là một trò chơi thị giác hoãn hóa thành tinh thần, trà là dư vị nhất thời của đất trời còn đọng lại. Chuyện trà tuy hai mà một, sách hay cũng tựa trà ngon, làm người ta luôn cảm giác dư vị vô cùng mà không gian tưởng tượng thì vô hạn.
Những bức tranh được tác giả vẽ ra từ bài trí không gian, tới xắp đặt trà cụ, phảng phất như những lãng mạn giả tưởng mà vẫn chân thực. Không gian bài trí trà có lúc chẳng câu nệ hình thức, sự xếp đặt từng bức tranh, những câu chuyện như tùy lòng mà hiện, tựa vào thời và vị khác nhau, những tâm tình khác biệt của các văn nhân dật sỹ. Thời đại nào cũng vậy đều là sự trình hiện những giá trị mỹ học khách quan của thời đại đó. Chuyện trà là câu chuyện của từ thường dân tới văn nhân, tăng sỹ, quý tộc. Văn nhân hay tăng sỹ cũng đều giống nhau ở chỗ có nhàn tản. Không đói đến mức không có cơm ăn áo mặc, nhưng cũng chẳng vì tiền mà lao lực bôn ba, thế nên văn chương chữ nghĩa, những thứ vừa nhỏ nhặt của đời sống vẫn có thể đẩy lên một tầng cao khác. Nhàn thời uống trà, uống xong thì làm thơ vẽ tranh. Về bản chất, văn nhân chẳng giầu có gì, chuyện trà ngon hay dở thực ra cũng không đặt nặng lắm, nhưng đối với trà cụ hay không gian uống, lại có khi chú trọng hơn nhiều hoặc leo lên đỉnh núi cao, hoặc tới nơi suối sâu, uống trên đỉnh tuyết, hay bên bờ biển, đại để muôn hình vạn trạng, để hưởng không chỉ trà mà còn cả khí của núi của sông lẫn trong đó. Văn nhân phẩm trà, phẩm chưa chắc ở trà, thực chất đó là phẩm nhân sinh, phẩm cuộc đời là cảnh giới lý tưởng, cảnh giới đó hẳn không phải là cảnh giới của Ức Trai, càng không phải kiểu văn nhân ở nơi phòng ốc như Miên Thẩm, mà phải lịch thiệp giang hồ, có cái ngạo nghí phong cốt như Cao, thảng hoặc bình dị mà phiêu dật như Lãn Ông mới thực là điều tâm đắc.

Tinh thần của con người càng tĩnh lặng, thì càng nhìn thấy tình, thấy lý, thấy những điều đằng sau những biểu đạt hình ảnh. Như chúng ta nhìn một người, chúng ta chẳng nhìn những đường viền, đường nét, mầu sắc, mà còn nhìn biểu cảm, thần sắc, những thông tin đằng sau những lớp vỏ hình ảnh. Núi sông, không chỉ là núi sông, núi sông còn là sinh khí, là linh khí. Một tri nhận trực quan dẫn tới những thể ngộ trực quan. Ai cũng có trong lòng mình những khu vườn với muôn ngàn cảnh sắc và thanh âm. Trong chén trà rất nhỏ, nhưng nó cũng lại vừa vừa đủ. Thế giới có thể lớn, nhưng núi Tu Di cũng chỉ như hạt cát. Trà chỉ một chén, nhưng cũng đủ để ánh chiếu cả đại thiên thế giới trong đó chăng? Có nhiều khi, tay cầm chén trà, nhắm mắt lại, cảm giác tinh thần đã đến một nơi nào đó xa xôi. Có lúc ánh mắt đưa tới những nơi vô hạn. Không còn giới hạn của không gian và thời gian, dẫu không gian trà thực tại đó rất nhỏ, cắm một vài nhanh hoa, một gốc cây khô, nó cũng vẫn là một không gian, mà tinh thần thì cao vợi, cái thấy và cái không thấy là bao la.
Chuyện trà không phải là chỉ là tự sự, miêu tả, không phải chỉ là tình cảm, thậm chí là một biểu đạt. Ở đó là một cuộc chiến đấu và hoà giải bất tận với chính mình. Mỗi một sự hoàn thành, mỗi một lần nhấc lên đặt xuống của câu từ đều là một quá trình, không có kết quả, hay nói đúng hơn là nếu có thì đó cũng là một kết quả giả tưởng. Hoàn chỉnh là một sản phẩm lý tưởng hoá, là sự sợ hãi đánh mất kiểm soát. Sự tiếp nhận thực sự đó là sự tiếp nhận tất cả, tiếp nhận bất khả tri, tiếp nhận bất lực, tiếp nhận hiện tại, tiếp nhận không thể khống chế và cả sự thiếu hụt . Quá trình đó là một quá trình cần đủ dũng khí và tự tin, tiếp nhận thực tại, cuối cùng thay đổi diện mạo của tác phẩm, một sự chân thực của chính mình.
Trong mắt tôi anh là một kẻ phản nghịch, anh phản kháng chính năng lực mà mình mạnh mẽ nhất! Phản kháng năng lực sáng tạo nên những tác phẩm đẹp nhất! Cố gắng đi tìm, định nghĩa cái đẹp ở một góc độ độc lập hơn, càng rộng hơn, thế giới hơn! Dùng thời gian của mình để đi tìm kiếm những thế giới chưa biết và một phần nào đó bản chất của nó. Không ngừng ham vui với những chân trời khác lạ..
Ngấu nghiến cuốn sách chỉ trong nửa ngày, thực là được nửa ngày nhàn, hơn mười năm trần mộng! Nhưng đọc xong lại thấy có lỗi với sách, bởi nó không phải là sách nên ngấu nghiến mà nên thong dong để thưởng nhàn mà thôi! Trà có sang tiện quý hèn, chén cũng có sang tiện quý hèn nhưng xét cho cùng vẫn chỉ là trà, là chén để rồi, chén trà sang trọng cũng chỉ bởi cùng ai. Trà không phải là trà, chuyện trà cũng đâu chỉ có chuyện trà mà thôi! Đặt “chuyện trà” xuống, sẽ có hàng ngàn truyện trà khác được ra đời…
且将新火试新茶,诗酒趁年华
Nguyễn Sử viết ở Hạc Sào, 9/2021.