Tây Thanh Hoa du ký (03):……. Bên kia khúc cua
Người Mường và người Thái đốt cỏ tranh để nó mọc lại tốt hơn, rậm hơn, để bán cho người Việt lợp nhà (…); chỉ đốt chơi thôi, họ nói thế.
Charles Robequain (2012: 200)
Rời Pù Luông, chúng tôi sang Bản Bút để nghỉ. Không quay về Cành Nàng, chúng tôi đi xuyên qua bản La Hán, ngược lên hồ Vinh Quang. Con đường gần như không một bóng người. Có chút mạo hiểm, nhưng thú vị. Nắng vàng xuyên qua những lớp luồng phủ kín hai bên.
Luồng là thứ đặc sản rất Thanh Hóa. Đi đâu cũng thấy luồng, tre ống. Tỉnh Thanh có câu đùa: nông nghiệp ở đây toàn những thứ vần L. Tôi nhớ được năm: lạc, lúa, lợn, lang, luồng. Cái thứ sáu thì nghĩ mãi chưa ra.

Hồ Vinh Quang buổi chiều. Những hàng chuối đổ bóng xuống mặt hồ, đã xanh lại càng xanh. Mặt nước phẳng đến mức hàng chuối và bóng của nó gần như một. Tôi nghĩ đến tranh Higashiyama Kaii.

Rồi Bản Khó, làng Nghèo. Cái tên không hứa hẹn gì. Vậy mà cảnh thì đẹp: những lớp ruộng bậc thang đan cài với những tảng đá lớn, và một vách núi trắng bạc nằm nghiêng hẳn vào trong làng. Nghe nói trong bản cũng đã có nhà làm homestay.
Cuối chiều, chúng tôi qua Hang Ma. Hơn hai mươi năm trước, chuyến ngược sông Mã năm lớp 11 cũng dừng ở đây. Quay lại, vẫn thấy nó có chút gì đó khiến mình đứng lâu hơn dự định. Vách đá dựng đứng. Suối chảy qua rất xiết. Chỉ nghe tiếng nước cũng biết dòng sâu.


Bản Bút nhẹ nhàng, đẹp một cách đơn sơ. Không nhiều homestay như phía Pù Luông, dù trên sườn đồi đối diện đã có một dòng chữ lớn: “Du lịch Bản Bút”. Nhiều nhà vẫn còn mái tranh, chưa lợp tôn lên trên.
Đến nơi thì mất điện.
Dưới gầm sàn nhà nghỉ, những chùm ngô treo xen giữa những bóng đèn trên cùng một sợi dây. Bao thóc xếp chồng. Vải thổ cẩm vắt ngang. Một dây cờ đỏ nhỏ. Đèn tích điện vẫn sáng, nước vẫn sẵn. Người ở đây có vẻ đã quá quen với chuyện mất điện.
Tám giờ tối thì điện về. Mọi việc lại bình thường.
Nhưng điện về rồi, đêm vẫn thuộc về những thứ khác. Tiếng dế. Tiếng suối chảy ngay cạnh nhà. Và những tiếng của rừng mà tôi không gọi được tên.

Trên Bản Bút còn một cái hồ Pha Đay . Đường lên hoang vắng, cây phủ kín như đi vào rừng nguyên sinh.
Sáng ấy sương mù dày, gần như không thấy gì. Mặt hồ và trời lẫn vào nhau. Chỉ còn mấy chiếc bè tre nằm sát bờ, vài cây sào cắm xuống nước. Chiều hôm trước, hồ Vinh Quang soi rõ từng tàu chuối. Sáng nay, cái hồ này không cho thấy gì.
Chúng tôi ngồi đun ấm nước pha cà phê. Nước lấy từ thác Hiêu hôm trước, có chút khoáng, cà phê càng đậm vị.
Bên hồ có một ông. Ông bảo bên kia rộng lắm. Chúng tôi định nhờ ông chèo ra giữa hồ. Ông bảo: “Có thấy gì đâu mà đi.”
Rồi ông bảo chờ thêm một lúc nữa chắc hết mù. Chúng tôi nghĩ nên chờ. Hết một cốc cà phê, trời vẫn trắng như cũ. Thôi, đi tiếp.
Cái hồ ấy, tôi chỉ biết qua hai câu nói. Ông bảo: bên kia rộng lắm. Chị chủ nhà bảo: hồ đẹp lắm. Trên bản đồ, nó chưa có lấy một lời nhận xét.

Từ Bản Bút, chúng tôi sang Quan Sơn. Những cái tên tôi từng chỉ đọc trên bản đồ giờ thành những đoạn đèo, những khúc cua. Chúng tôi chọn những con đường vắng người.
Có một tổ hợp cảnh quan mà tôi nghĩ là rất Việt Nam: ruộng bậc thang, liền với nó là rừng, đá, suối, và xen vào tất cả là chuối. Chuối mọc theo mép bậc ruộng, dọc bờ suối, quanh nhà. Chuối thì ở đâu cũng có. Nhưng chuối thành một phần của cảnh quan như ở đây thì tôi chưa gặp nơi nào.
Ở một khe suối trên núi, những ống tre và những ống nhựa đen nằm chồng lên nhau, cùng dẫn nước xuống. Cái cũ không nhường chỗ cho cái mới. Chúng nằm cạnh nhau.
Bản làng thì luôn nằm ở những khúc cua quanh co của dòng sông, ở bên kia đồi.
Hơn hai mươi năm trước, tôi chỉ kịp thấy những bản làng như thế thấp thoáng trong rặng cây, qua cửa kính ô tô, rồi đường vòng, và bản khuất. Lần này không có lớp kính nào. Nắng, gió, bụi, cả cái mệt, đều vào thẳng người. Muốn dừng ở khúc cua nào thì dừng. Tôi vừa ngủ một đêm trong một bản như thế. Vậy mà qua mỗi khúc cua, tôi vẫn nhìn sang bên kia.

Giữa một cánh đồng đã gặt, có một chị đang đốt rạ. Lửa bén hừng hực một lúc, rồi chỉ còn làn khói mỏng. Sau lưng chị là một vạt tro đen.
Tôi hỏi chị làm gì đấy. Chị bảo đốt rạ để chuẩn bị trồng cải. Năm nay mất mùa, lúa hơi lép, không như mọi năm.
Những thửa ruộng vàng đã gặt tôi ngắm suốt mấy hôm, với chị, là một vụ lúa lép.
Ở thửa bên cạnh, rạ đã đốt xong. Trên lớp tro, mạ xanh đã đâm lên qua những gốc rạ.

Đường tới hang Bo Cúng đi giữa hai dãy núi. Những vách đá vôi dựng đứng, rừng phủ tới đỉnh. Có đoạn đường bê tông chui dưới một vách đá nhô ra, những cột mốc sơn đỏ trắng bên đường nhỏ như que diêm. Ở đây rất dễ thấy mình nhỏ bé.
Đến nơi thì hang khóa cửa. Quanh hang mất sóng. Hai thầy trò phải đi ngược ra ngoài tìm chỗ có sóng, gọi điện cho người đến mở.
Hang rất dài, càng vào càng mở ra những khoang mới. Người ta đã lắp đèn. Thạch nhũ hiện lên dưới những vệt sáng xanh lục, vàng cam. Ở vài chỗ, cách đánh đèn cho thấy người làm có con mắt.
Một cái hang có từ trước khi có người. Muốn vào, phải chờ một cuộc điện thoại.
Năm nay, chính quyền không cho dân ở quanh hang nữa. Hang được giao cho một công ty du lịch, nhưng gần như chưa làm gì.
Lúc đến hang, giữa trưa, có một bà đang hái măng, nhặt nhạnh quanh đó. Tôi hỏi đùa: bà có gì ăn không? Bà bảo không. Dăm câu ba điều, bà bảo bà là người ở đây. Rồi bà kể về chuyện làm du lịch ở xã. Bà bảo: “Để hoang, phí quá.”
Lúc ra khỏi hang, trên mũ bảo hiểm có dăm bảy quả ổi. Không cần hỏi cũng biết là của bà. Xin cám ơn

Trên đường từ Bò Cúng sang bản Ngàm, ngay dưới chân một vách đá vôi, là đền thờ Tư Mã Hai Đào, vị tướng được người Thái ở Mường Xia thờ. Mái cong, rồng chầu, ngói đỏ, hai dãy bậc lan can trắng, giống hệt những ngôi đền dưới xuôi. Ngôi đền nhỏ lại dưới vách núi. Năm 2025, đền được tỉnh xếp hạng di tích lịch sử. Ấn tượng ngôi đền thì vừa phải, nhưng ấn tượng về dãy núi cao sừng sững đột ngột phía sau ngôi đền thì gấp nhiều lần!

Tối ấy chúng tôi ngủ ở bản Ngàm, một bản khác, sau một khúc cua khác.
Bản nằm bên sông Lò. Năm 1900, một viên thanh tra Pháp tên Cuvelier cho mở con đường Sam Teu từ sông Chu lên. Con đường chạy thẳng vào thung lũng sông Lò, phía dưới bản Ngàm, rồi ngược lên đất Lào. Robequain viết rằng con đường ấy “chỉ có giá trị chiến lược”.
Chị chủ homestay bảo: nay nhà họ hàng chị bận đám cưới, không nấu cho bọn em được, bọn em tự tìm chỗ ăn nhé. Trao đi đổi lại một lúc, chị đưa ra ý kiến: hay bọn em đóng phong bì, xuống đám mà ăn.
Chúng tôi đồng ý ngay.
Trời xui đất khiến thế nào, chỗ của hai thầy trò lại ngay bàn có cán bộ xã. Thế là không một phút nào được nghỉ. Rượu uống tràn cung mây. Và say.
Hơn hai mươi năm, tôi nhìn những bản làng từ bên kia khúc cua. Tối ấy, tôi ngồi giữa một đám cưới trong bản, chén rượu không lúc nào cạn.
Uống rượu, cùng lắm là say chứ gì !

Những cảnh quan dọc đường
