Bỏ qua đến nội dung
Su Art Space

Tản mạn về một hình thức ngói

Sun03403

Ngoài những con voi đá khổng lồ, những tấm bia to lớn ở lăng mộ thì trung tâm của lăng Nguyễn Văn Nghi có một bộ mái ngói mũi hài siêu to, siêu khổng lồ. Cả một mặt mái xám lục, chỗ đậm chỗ nhạt, lấm tấm rêu, còng queo mấy chiếc lá khô mắc lại giữa các khe. Chỉ ở phần bờ chảy và mấy hàng cuối, màu đất nung mới ló ra, đỏ nhạt như da tay người già.

“Mũi hài” đúng như tên về hình dáng. Đầu viên ngói tròn, hơi vểnh, giống mũi chiếc hài. Bộ mái này là một cầu trả lời vô cùng thú vị về mặt kỹ thuật đối với một vùng thường xuyên đối diện với gió bão. Khi nghĩ về mưa, ban đầu tôi cũng chỉ hình dung mưa như những hạt nước rơi thẳng, phân bố đều, chảy đều trên mặt mái xuống máng. Hình dung đó chỉ đúng với cơn mưa nhỏ trong thành phố. Ở Thanh Hóa, ở Nghệ An, trong một cơn bão, mưa không chỉ “bay bay trên tầng tháp cổ”. Gió cuốn nước thành vệt, thành màn, thành khối. Nước đập ngang vào mái, tạt lên từ dưới, dồn về một phía theo hướng gió, rồi đổi hướng khi gió đổi. Có những khoảnh khắc một lượng nước rất lớn giáng xuống một vùng rất nhỏ của mặt mái. Vấn đề kỹ thuật của người thợ không phải là thoát nước. Vấn đề là quá tải cục bộ.

 

Ở đây mũi hài bắt đầu làm việc.

Mỗi cái mũi tròn ấy là một điểm chia. Nước gặp mũi ngói thì tách sang hai bên, rơi xuống hàng ngói dưới, gặp hai cái mũi khác, lại tách. Xuống hàng nữa, lại tách. Cứ thế, từ trên nóc xuống bờ chảy, dòng nước bị bẻ ra liên tục theo cấu trúc phân nhánh. Một khối nước dồn xuống ở hàng trên, đi hết mặt mái, đã tan thành hàng chục dòng mỏng ở hàng dưới. Ba hệ quả, và cả ba đều là hệ quả thủy lực chứ không phải trang trí: Điểm rơi bị phân tán, nên không hình thành một rãnh chảy chủ đạo nào để nước khoét sâu và tràn ngang. Lớp nước trên mặt mái mỏng đi, nên áp lực nước không đủ để dội qua khe chồng mí lên phía trong. Mái chịu được mưa dài. Không chỉ vì thoát nhanh hơn, mà nguyên nhân chính là không chỗ nào bị dồn quá sức trong lúc mưa còn chưa dứt.

 

Sun03403Mũi hài là một thiết bị thủy lực thô sơ, làm bằng đất, không có bộ phận chuyển động, và hoạt động bằng chính hình dáng của nó. Bằng chứng thì nằm ngay trong ảnh. Những chiếc lá khô kia không bị trôi đi. Chúng còn nằm đó, mắc giữa các khe, vì nước qua mặt mái này không chảy thành dòng mạnh có sức quét. Nước đi chậm, đi tán, đi mỏng.

 

Cùng vật liệu, khác khí hậu

Tôi từng nghĩ ngói là ngói, ở đâu cũng thế. Tôi thấy mình nhầm.

Trên Đồng Văn, Mèo Vạc, ngói âm dương có thể chỉ xếp một lớp, dựa vào trọng lượng và độ dốc, dựa vào cách chồng mí là đủ. Gió ở đó khác, mưa ở đó khác. Về xuôi, về vùng bão, số lớp tăng lên, và tăng chủ yếu ở lớp dương. Lớp âm lo việc thoát nước. Lớp dương lo việc giữ mái, chịu gió, chống tốc. Tại những vùng bão to như Quảng Nam, người dân còn sử dụng hình thức mái 2 lớp, 1 lớp ngói, 1lớp Đất ở bên dưới để tăng độ nặng cho mái, lớp đất này cũng có thể được thay thế bằng vừa vôi.

Cùng một họ vật liệu, cùng một nguyên lý xếp lớp, nhưng cấu tạo biến thiên theo rủi ro môi trường. Kỹ thuật cổ không có bản vẽ tiêu chuẩn áp cho cả nước. Kỹ thuật có một hệ ngữ pháp riêng và mỗi vùng một hệ ngữ pháp ấy bằng thổ ngữ của mình. Cho nên khi thấy mái phụ ở hai đầu hồi, thấy hàng hiên chạy dài dưới bờ chảy thấp, thấy khe tách giữa gian trước và gian sau, thấy máng nước ở nơi hai khối mái giao nhau đó không phải đơn thuần là chi tiết tạo hình. Đọc chúng như một chuỗi biện pháp. Công trình không chống mưa bằng cách bịt kín. Nó chia nhỏ, giảm lực, chuyển hướng, phân tán nước.

Trong ảnh, cái bờ chảy hạ rất thấp và vươn rất xa ra ngoài hàng cột, hai đầu hơi hất lên. Đó là chỗ mưa tạt bị chặn trước khi chạm tới thân tường. Bức tường hồi phía trên, nhô cao lên khỏi mặt mái, mang cái đấu nhỏ ở đỉnh nóc, không chỉ để cho dáng mái có tầng. Nó là một tấm chắn dựng ngang hướng gió.

Nghịch lý của viên ngói nung non

Đây là chỗ tôi tin rằng kỹ thuật cổ đi trước quan niệm hiện đại, chứ không đi sau. Ngói mũi hài truyền thống không được nung tới mức cứng kín như gốm công nghiệp. Ngói được nung vừa phải, để còn xốp, ngậm được ẩm. Và vì thế nó chắc chắn sẽ lên rêu!

Với tư duy vật liệu hiện đại, đó là một danh sách khuyết điểm. Với khí hậu nóng ẩm, đó là một danh sách chức năng. Mái cổ không trám vữa để khóa từng viên. Ngói được cài, được xếp, tựa lên nhau và tựa lên hệ mè. Hệ ấy vốn linh động – mà phải linh động mới được, vì bộ khung gỗ bên dưới còn co giãn, còn dao động khi gió lớn. Nhưng linh động thì có nguy cơ trượt.

(Mái ngói Đền Và)

Rêu giải quyết chuyện đó. Sau một mùa mưa nắng, rêu mọc trên mặt và trong khe ngói, tăng ma sát giữa các viên, khóa mềm cả mặt mái lại với nhau. Không khóa cứng như xi măng, mà khóa theo kiểu vẫn cho phép xê dịch.

Rêu thì còn giữ ẩm. Viên ngói ẩm nóng lên chậm hơn dưới nắng. Đến trưa, nước trong rêu và trong thân ngói bốc hơi, và bay hơi thì lấy nhiệt đi. Mặt mái tự làm mát nó. Vì không có lớp trám kín nào, hơi ẩm bên trong nhà cũng thoát lên được qua các khe chồng mí. Cái mà người ta hay gọi bằng chữ mơ hồ là “mái thở”, ở đây có nghĩa rất cụ thể: có đường cho khí ẩm luân chuyển. Vậy nên mặt mái xám lục trong ảnh không phải dấu hiệu mái sắp hỏng.

Điều này đảo ngược với ngói hiện nay. Với ngói công nghiệp, ngày lợp xong là ngày viên ngói tốt nhất, và từ đó về sau chỉ là suy giảm. Với ngói mũi hài nung non, ngày lợp xong là ngày mái yếu nhất. Ngói cần một mùa mưa để tự khóa lại, và cần nhiều mùa nữa để hoàn thiện. Thời gian không phá mái. Thời gian là một phần vật liệu của mái.

Cái mất không phải màu ngói

Bây giờ hãy đọc lại một câu quảng cáo rất phổ biến: không rêu mốc. Tôi không nghĩ đó là một lời nói dối. Tôi nghĩ đó là một sự không hiểu, được đóng gói thành ưu điểm bán hàng. Viên ngói nung già, phủ men, nhẵn, không ngậm ẩm, thì đúng là rêu khó bám. Kèm theo đó: ma sát giữa các viên thấp, mặt mái dễ trượt, nước chảy mạnh thành dòng, và người thợ buộc phải bù bằng vữa hoặc xi măng để giữ. Trám xi măng thì mái không thở nữa. Một hệ thống vốn vận hành bằng xếp lớp, ma sát, ngậm ẩm và bay hơi bị chuyển thành một lớp vỏ kín. Sạch. Bền nhưng Sai.

Sai ở chỗ nào? Không sai ở hình. Ngói mới lợp lên vẫn cho ra đúng đường cong ấy, đúng nhịp vảy ấy, chụp ảnh lên có khi còn đẹp hơn. Sai ở cơ chế. Chúng ta giữ được hình dáng và làm mất cái làm cho hình dáng ấy có lý do tồn tại.

Sun03405

(Mái ngói đền thờ trong lăng Nguyễn Văn Nghi – Mũi hài như hình vây rồng dựng ngược)

Đây là chỗ tôi thấy vấn đề vượt khỏi kỹ thuật. Trong phần lớn các cuộc phục dựng, thứ được coi là di sản là hình thức. Người ta đo đường cong, đếm hàng ngói, sao lại họa tiết, rồi thay toàn bộ vật liệu bằng thứ tốt hơn theo nghĩa hiện đại. Kết quả là một mô hình đúng tỉ lệ của một hệ thống đã chết. Cái mái không còn chia nước, không còn tự khóa, không còn tự làm mát, không còn thở. Mái chỉ còn giống. Bảo tồn kiến trúc cổ, nếu nghiêm túc, phải bảo tồn cả độ nung. Cả độ xốp. Cả quyền được lên rêu.

(Mái ngói và con kìm chùa Mui)

Cuối

Tôi nhìn lại bức ảnh. Mái ngói phủ rêu, mấy chiếc lá khô, đầu bờ chảy hất lên, hàng hiên tối, cột gỗ đã bạc lớp sơn. Có bình chữa cháy đỏ đặt sát tường, có tờ lịch treo bên cửa sổ chớp. Không có gì được sắp đặt cho đẹp.

Điều khiến tôi ngồi lâu trước tấm ảnh này không phải vẻ cổ kính. Vẻ cổ kính thì dễ làm giả. Điều khiến tôi ngồi lâu là cảm giác đang xem một cái máy vẫn đang chạy – bằng hình dáng, bằng trọng lượng, bằng ma sát, bằng độ ẩm, không cần điện, không cần bảo trì, và mỗi năm lại tự siết chặt thêm một chút. Tốp thợ đã lợp mái này không viết gì lại. Người ta chỉ để lại một mặt mái, và để cho rêu viết phần còn lại.