Nalanda – về giữa căn nhà mất mái.
Không phải “về nhà” theo nghĩa quê hương, càng không phải một sự thân thuộc dễ chịu như khi trở lại một nơi chốn quen. Nalanda chỉ còn gạch, nền, tường, lối đi, những ô vuông của tăng phòng, những khoảng sân từng là trung tâm của một đời sống học thuật và tu viện đã biến mất từ rất lâu. Căn nhà không đón tôi bằng sự nguyên vẹn. Nalanda không còn một cộng đồng tu học đang sống, không còn tiếng tranh luận, tiếng tụng kinh giảng học của hàng nghìn tăng sĩ và học giả từ nhiều vùng châu Á. Nhưng chính giữa những bức tường gạch đỏ ấy, tôi lại thấy một thứ thân thuộc sâu hơn cả sự nguyên vẹn: thân thuộc với một giấc mơ về tri thức.
Nalanda gần với tôi. Tôi biết, khoảng cách lịch sử quá lớn để nói những điều như vậy. Nhưng ở Nalanda có một điều rất gần với đời sống của mấy anh học trò: niềm tin rằng học không chỉ là tích lũy thông tin, mà là một hình thức cư trú. Người ta không chỉ học một văn bản, người ta sống trong một môi trường của văn bản.
Một học viện lớn tạo ra kiến thức bằng sách, nhưng cũng tạo ra bằng đời sống, mối quan hệ thầy trò, sự va chạm giữa các trường phái, kỷ luật hằng ngày, bằng khả năng để nhiều người cùng dành cả đời mình cho những câu hỏi mà người ngoài có thể thấy quá xa xỉ. Và trường đại học này, đúng là một nơi như vậy
Huyền Trang – tôi lại nhớ đến ông. Chỉ cần đứng giữa Nalanda là đã thấy bóng ông ở đó: ông đến để tìm kinh, tìm thầy, tìm sự xác nhận cho những câu hỏi giáo lý và trí tuệ của mình. Huyền Trang làm cho Nalanda không còn là một di tích Ấn Độ thuần túy. Qua ông, Nalanda trở thành một điểm nối của châu Á Phật giáo, nơi những văn bản, khái niệm, tranh luận và hình dung về chân lý có thể vượt qua biên giới ngôn ngữ, chính trị và địa lý. Ông không chỉ là người đến học. Ông là người đem Nalanda đi xa, bằng ký ức, bằng dịch thuật, bằng chữ Hán, bằng những văn bản làm cho người đời sau có thể tưởng tượng lại một nơi mà họ chưa từng thấy. Nếu không có ông, Nalanda giờ đây chỉ là một phế tích!
Đi giữa các nền gạch, tôi tự hỏi một nơi như Nalanda có thể dạy gì cho tôi. Một bài học dễ dãi rằng ta nên phục hồi tinh thần học thuật cổ xưa? hay ca tụng Nalanda như một mô hình đại học lý tưởng của châu Á? Những lời ca tụng như vậy thường làm phế tích mất đi độ buồn cần thiết của nó. Nalanda là biểu tượng của vinh quang tri thức nhưng cũng cho thấy tri thức mong manh hơn ta tưởng. Thư viện đã cháy. Truyền thừa bị xoá sổ. Một hệ thống học thuật từng là trung tâm giờ đây có thể trở thành đề tài nghiên cứu cấp nhà nước rồi cho vào tủ. Người nghiên cứu, nếu đứng trước Nalanda mà chỉ thấy tự hào văn minh, có lẽ chưa chạm đủ sâu vào gạch đá vôi vữa bên trong.
Mất mát chăng? Có. Vì giữa phế tích ấy, không có tuyệt vọng. Tôi lại thấy một sự ấm áp kỳ lạ (nóng bỏcmr mà), có lẽ chính là cảm giác “về nhà”. Nalanda, dù chỉ còn gạch, vẫn giữ hình dáng của một thế giới từng tin rằng những công việc ấy đáng để dành cả đời. Và trong một thời đại mà tri thức thường bị đo bằng tốc độ, hiệu quả, sản phẩm, chỉ số, kpi, vị trí nghề nghiệp, phế tích của một nơi từng dành nhiều thế kỷ cho học và tu bỗng trở thành một lời an ủi rất âm thầm.
Tôi không muốn lãng mạn hóa học thuật. Tri thức cũng có quyền lực, sự kiêu ngạo rẻ tiền của nó. Một trung tâm như Nalanda chắc chắn không chỉ là nơi của sự sáng suốt thuần khiết. quy chế, thẩm quyền, danh tiếng, cạnh tranh, chính thống và ngoại biên. Người học không chỉ tìm chân lý, mà còn tìm vị trí trong một hệ thống. Những gì được giảng dạy ở đó không phải tự nhiên trở thành “cao hơn” các hình thức Phật giáo bình dân, hành hương, cầu nguyện hay nghi lễ mà tôi đã thấy ở Bodhgaya.
Điều đó làm tôi cẩn thận hơn với cảm giác “về nhà” của mình. Nhà của tôi có lẽ không phải toàn bộ Phật giáo, mà là một phần Phật giáo đã đi qua chữ nghĩa, tranh luận, văn bản và học thuật. Tôi thấy gần Nalanda vì tôi quen với đời sống của văn bản hơn đời sống của nghi lễ. Tôi có thể thấy thân thuộc với Huyền Trang hơn với một người hành hương đang khóc dưới cây bồ đề, không phải vì Huyền Trang cao hơn, mà vì ông ở gần khao khát của tôi hơn
Mỗi người có một cửa vào tôn giáo. Người vào bằng lễ bái. Người vào bằng nỗi đau. Người vào bằng thân thể. Người vào bằng tri thức. Cửa nào cũng có thể mở ra, và cửa nào cũng có thể trở thành nhà tù.
Giữa những bức tường gạch và nghĩ rằng mọi công trình học thuật rốt cuộc đều giống một bản dịch. Ta không bao giờ đưa quá khứ về nguyên dạng. Ta chỉ dựng một đường đi giữa cái đã mất và cái còn có thể hiểu. Ta chọn nguồn, chọn cách đọc, chọn khái niệm, chọn ngôn ngữ, chọn nhịp câu. Ta làm sống lại một thứ, đồng thời làm nó khác đi.
Điều đó không đáng xấu hổ, nếu ta biết mình đang làm gì. Sự nguy hiểm bắt đầu khi ta tưởng mình đã nói thay quá khứ một cách trọn vẹn. Nalanda, trong trạng thái phế tích, bảo vệ ta khỏi ảo tưởng ấy.
Và tôi có một niềm tin rằng, mình đã từng đến đây, lúc nào thì không biết, chắc chắn, không phải lúc này!

